Luật Sư Chuyên Bào Chữa Các Án Oan
Luật Sư Chuyên Bào Chữa Các Án Oan
Luật Sư Chuyên Bào Chữa Các Án Oan
Luật sư luôn đóng vai trò chính trong việc làm sáng tỏ hầu hết các vụ án oan, sai. Những chuyên gia pháp lý với lòng yêu nghề, sự dũng cảm và tôn chỉ bảo vệ công lý đã đấu tranh bền bỉ, “mưu trí” để chỉ ra những chứng cứ ngụy tạo, các vi phạm tố tụng nghiêm trọng, sự thật được làm sáng tỏ, bảo đảm công lý được thực thi. Nhưng có thể thấy vai trò của luật sư trong các vụ án oan, sai đều ở thời điểm mà người bị oan đang phải “chấp hành án”, có nghĩa những giai đoạn đầu của tố tụng, luật sư chưa thực sự được nhìn nhận và tôn trọng tương xứng với vai trò là “người chiến sĩ dấn thân vì công lý” cũng như trong việc phòng, chống án oan, sai.
Nguyên nhân dẫn đến những vụ án oan, sai đó là:
- Do năng lực, trình độ của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán còn hạn chế; có biểu hiện bệnh thành tích, nôn nóng trong giải quyết vụ án, tin tưởng hoàn toàn vào lời nhận tội của bị can, bị cáo; việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa thật đầy đủ, khách quan, toàn diện, từ đó có thái độ đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như là người có tội..., nên tình trạng ép cung, bức cung trong giai đoạn khởi tố, điều tra của điều tra viên với người bị tạm giam, bị can vẫn còn diễn ra. Công tác kiểm sát quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chưa theo sát diễn biến vụ việc, thiếu kiểm tra các “tình tiết phạm tội” trong vụ án hình sự, các chi tiết trong án dân sự dẫn đến hiện tượng chỉ dựa vào kết luận điều tra để truy tố. Trong xét xử vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ nên hình thành “án tại hồ sơ” mà ngại “lật giở” lại các tình tiết, nội dung của vụ án. Việc ra các quyết định thi hành án còn vi phạm về thời gian, ra quyết định không đúng, không đủ các nội dung trong quyết định, bản án của tòa án;
- Việc giám định trong quá trình tố tụng còn “yếu và thiếu”, giám định lĩnh vực xây dựng còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí thuê mướn nhân công, thuê và vận chuyển máy móc thiết bị chuyên dùng đến nơi giám định. Việc giám định trong lĩnh vực tài chính rất chậm, kéo dài do lựa chọn phương pháp, cách thức, khối lượng công việc lớn, quá khả năng của tổ chức giám định, do vậy nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn do chưa có kết luận giám định, chất lượng giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm, còn chung chung. Người giám định trong nhiều trường hợp không hợp tác, “né tránh” việc tham gia tố tụng vì ngại giải thích, trình bày trước tòa, nhất là án tham nhũng, án kinh tế, gây khó khăn về căn cứ trong quá trình tranh tụng, làm sáng tỏ vụ việc[2].
- Pháp luật tố tụng còn thiếu quy định cụ thể về căn cứ, cách thức trưng cầu để bảo đảm sự độc lập, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng và hoạt động giám định; cơ chế xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng với tư cách là một loại chứng cứ đặc biệt trong hoạt động tố tụng, những trường hợp bắt buộc người giám định tư pháp phải có mặt tham dự phiên tòa để trình bày và bảo vệ kết quả giám định chưa được quy định cụ thể thành điều luật. Các quy định về bắt và tạm giữ vẫn còn nghiêng về “cưỡng chế” vì người bị tạm giữ phải được biết lý do mình bị tạm giữ, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai, khiếu nại việc tạm giữ. Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai, được hỏi và thu thập chứng cứ từ người tạm giữ, bị can (quyền bào chữa có từ khi người bị tình nghi phạm tội). Tuy nhiên, trong thực tế các quy định này không có hiệu quả một phần là do rào cản từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, một phần do vai trò luật sư chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Vai trò của luật sư trong từng giai đoạn của vụ án chưa thể hiện tính quyết liệt, một phần do rào cản từ cơ quan tiến hành tố tụng như gặp bị can, bị cáo trong vụ án hình sự, dự hỏi cung, đối chất, thực nghiệm điều tra thường không thường xuyên đầy đủ và kịp thời, một phần do trách nhiệm và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số luật sư còn hạn chế. Đặc biệt trong các vụ án dân sự, luật sư có quyền chủ động gặp khách hàng để tìm hiểu, trao đổi, thu thập chứng cứ song kết quả không được là bao, vẫn còn biểu hiệu ngại “va chạm” với cơ quan tiến hành tố tụng nên kết quả có án oan, án sai là tất yếu bên cạnh các nguyên nhân đã được đề cập ở trên. Án oan, sai là một sâu chuỗi của hệ quả các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng, giám sát việc điều tra, xét xử, kết quả của việc bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, pháp nhân chưa được đảm bảo. Vai trò của luật sư trong việc đi tìm chứng cứ, tính phản biện xã hội, tranh tụng còn hạn chế, những kiến nghị giúp người bị tình nghi phạm tội kháng cáo chưa “sắc bén”, đặc biệt là phát hiện sớm những dấu hiệu, tình tiết oan, sai còn hạn chế, chưa khẳng định rõ tính khách quan, toàn diện và sự thật của từng vụ án, kết quả tranh tụng chưa cao, mục đích bảo vệ công lý chưa được bảo đảm.
Luật sư luôn đóng vai trò chính trong việc làm sáng tỏ hầu hết các vụ án oan, sai. Những chuyên gia pháp lý với lòng yêu nghề, sự dũng cảm và tôn chỉ bảo vệ công lý đã đấu tranh bền bỉ, “mưu trí” để chỉ ra những chứng cứ ngụy tạo, các vi phạm tố tụng nghiêm trọng, sự thật được làm sáng tỏ, bảo đảm công lý được thực thi. Nhưng có thể thấy vai trò của luật sư trong các vụ án oan, sai đều ở thời điểm mà người bị oan đang phải “chấp hành án”, có nghĩa những giai đoạn đầu của tố tụng, luật sư chưa thực sự được nhìn nhận và tôn trọng tương xứng với vai trò là “người chiến sĩ dấn thân vì công lý” cũng như trong việc phòng, chống án oan, sai.
Nguyên nhân dẫn đến những vụ án oan, sai đó là:
- Do năng lực, trình độ của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán còn hạn chế; có biểu hiện bệnh thành tích, nôn nóng trong giải quyết vụ án, tin tưởng hoàn toàn vào lời nhận tội của bị can, bị cáo; việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa thật đầy đủ, khách quan, toàn diện, từ đó có thái độ đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như là người có tội..., nên tình trạng ép cung, bức cung trong giai đoạn khởi tố, điều tra của điều tra viên với người bị tạm giam, bị can vẫn còn diễn ra. Công tác kiểm sát quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chưa theo sát diễn biến vụ việc, thiếu kiểm tra các “tình tiết phạm tội” trong vụ án hình sự, các chi tiết trong án dân sự dẫn đến hiện tượng chỉ dựa vào kết luận điều tra để truy tố. Trong xét xử vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ nên hình thành “án tại hồ sơ” mà ngại “lật giở” lại các tình tiết, nội dung của vụ án. Việc ra các quyết định thi hành án còn vi phạm về thời gian, ra quyết định không đúng, không đủ các nội dung trong quyết định, bản án của tòa án;
- Việc giám định trong quá trình tố tụng còn “yếu và thiếu”, giám định lĩnh vực xây dựng còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí thuê mướn nhân công, thuê và vận chuyển máy móc thiết bị chuyên dùng đến nơi giám định. Việc giám định trong lĩnh vực tài chính rất chậm, kéo dài do lựa chọn phương pháp, cách thức, khối lượng công việc lớn, quá khả năng của tổ chức giám định, do vậy nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn do chưa có kết luận giám định, chất lượng giám định trong một số trường hợp chưa bảo đảm, còn chung chung. Người giám định trong nhiều trường hợp không hợp tác, “né tránh” việc tham gia tố tụng vì ngại giải thích, trình bày trước tòa, nhất là án tham nhũng, án kinh tế, gây khó khăn về căn cứ trong quá trình tranh tụng, làm sáng tỏ vụ việc[2].
- Pháp luật tố tụng còn thiếu quy định cụ thể về căn cứ, cách thức trưng cầu để bảo đảm sự độc lập, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng và hoạt động giám định; cơ chế xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng với tư cách là một loại chứng cứ đặc biệt trong hoạt động tố tụng, những trường hợp bắt buộc người giám định tư pháp phải có mặt tham dự phiên tòa để trình bày và bảo vệ kết quả giám định chưa được quy định cụ thể thành điều luật. Các quy định về bắt và tạm giữ vẫn còn nghiêng về “cưỡng chế” vì người bị tạm giữ phải được biết lý do mình bị tạm giữ, được giải thích về quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai, khiếu nại việc tạm giữ. Người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai, được hỏi và thu thập chứng cứ từ người tạm giữ, bị can (quyền bào chữa có từ khi người bị tình nghi phạm tội). Tuy nhiên, trong thực tế các quy định này không có hiệu quả một phần là do rào cản từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, một phần do vai trò luật sư chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Vai trò của luật sư trong từng giai đoạn của vụ án chưa thể hiện tính quyết liệt, một phần do rào cản từ cơ quan tiến hành tố tụng như gặp bị can, bị cáo trong vụ án hình sự, dự hỏi cung, đối chất, thực nghiệm điều tra thường không thường xuyên đầy đủ và kịp thời, một phần do trách nhiệm và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số luật sư còn hạn chế. Đặc biệt trong các vụ án dân sự, luật sư có quyền chủ động gặp khách hàng để tìm hiểu, trao đổi, thu thập chứng cứ song kết quả không được là bao, vẫn còn biểu hiệu ngại “va chạm” với cơ quan tiến hành tố tụng nên kết quả có án oan, án sai là tất yếu bên cạnh các nguyên nhân đã được đề cập ở trên. Án oan, sai là một sâu chuỗi của hệ quả các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng, giám sát việc điều tra, xét xử, kết quả của việc bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, pháp nhân chưa được đảm bảo. Vai trò của luật sư trong việc đi tìm chứng cứ, tính phản biện xã hội, tranh tụng còn hạn chế, những kiến nghị giúp người bị tình nghi phạm tội kháng cáo chưa “sắc bén”, đặc biệt là phát hiện sớm những dấu hiệu, tình tiết oan, sai còn hạn chế, chưa khẳng định rõ tính khách quan, toàn diện và sự thật của từng vụ án, kết quả tranh tụng chưa cao, mục đích bảo vệ công lý chưa được bảo đảm.
